THAM LUẬN

GIẢI PHÁP NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THI VÀO LỚP 10 THPT
MÔN TOÁN

NĂM HỌC 2024 - 2025

Kính thưa đồng chí Lê Thịnh, bí thư cho bộ, hiệu trưởng nhà trường!

Kính thưa đ/c Phạm Thị Hảo, phó bí thư chi bộ, PHT nhà trường!

          Kính thưa toàn thể các đồng chí đảng viên trong chi bộ!

Được sự chỉ đạo của chi bộ trường THCS Vĩnh Quỳnh, sau đây tôi xin phép trình bày ý kiến tham luận của mình về “Giải pháp nâng cao chất lượng thi vào lớp 10 THPT môn Toán năm học 2024 – 2025”.

Trong những năm học vừa qua, bên cạnh những thành tích đã đạt được thì chỉ tiêu đạt được về học lực của HS trường ta còn nhiều khiêm tốn so với các trường bạn trong Huyện, đặc biệt là kết quả thi vào lớp 10 THPT của HS trường ta vẫn còn chưa được khả quan.

Trước hết, chúng ta cùng nhìn lại thực trạng về kết quả thi vào 10 của HS trường ta: Từ nhiều năm nay, kết quả thi vào 10, đặc biệt là môn TOÁN thường đứng ở tốp cuối, cụ thể, kết quả 2 năm gần đây như sau:

 

 

A table with numbers and letters

Description automatically generated with medium confidence

A screenshot of a computer screen

Description automatically generated

Vậy thì, nguyên nhân nào dẫn tới trình trạng trên? Có nguyên nhân chủ quan và cũng có nguyên nhân khách quan.

Trong năm học này, tôi được phân công chủ nhiệm lớp 6A1; giảng dạy bộ môn Toán lớp 9A4, trong đó lớp 9A4 là lớp đại trà. Cũng như bao giáo viên khác, khi được phân công chủ nhiệm và giảng dạy những lớp đại trà, tôi rất trăn trở và lo lắng. Lo bởi vì đa số HS ở các lớp đại trà mức độ tiếp thu bài còn chậm, ý thức tự giác học bài chưa cao, chưa chăm chỉ học tập, thậm chí một số em bị hổng nhiều kiến thức, mà một trong những lý do dẫn tới tình trạng đó là do các em lười học, ngại học, mải chơi, thiếu sự quan tâm của bố mẹ, ông bà và những người thân…

Vậy làm thế nào để các em có thể ôn và củng cố lại kiến thức cũ, tiếp thu được kiến thức mới để có thể theo kịp các bạn trên lớp, theo kịp các bạn trong trường và dần từng bước nâng cao chất lượng các lớp học đại trà?

Qua một số năm dạy các lớp đại trà và nắm bắt tâm lý cũng như mức độ tiếp thu bài của các em, tôi tự đề ra một số giải pháp như sau:

 Sau một số năm tham gia giảng dạy bộ môn toán 9 và ôn thi tuyển sinh vào lớp 10 THPT ở trường THCS Vĩnh Quỳnh, bản thân tôi đã rút ra được một số biện pháp để ngày một nâng cao chất lượng hơn, tôi xin đưa ra một vài ý kiến sau.

I.ĐẶC ĐIỂM TÌNH HÌNH.

1.              Thuận lợi:

- Ban giám hiệu nhà trường thường xuyên quan tâm, sát sao với việc học tập, ôn luyện của học sinh, chuẩn bị mọi điều kiện cho giáo viên và học sinh khối 9 nhằm đạt kết quả tốt nhất.

- Hầu hết phụ huynh đều quan tâm tạo điều kiện cho con em mình tham gia các lớp ôn tập để chuẩn bị cho kì thi tuyển sinh lớp 10.

- Bản thân giáo viên nhiệt tình, tâm huyết, hết mình trong công việc được giao.

2.              Khó khăn:

a)              Về phía học sinh:

- Đại bộ phận học sinh còn ỷ lại, thụ động dựa dẫm vào thầy cô, chỉ quen học vẹt, ít tư duy, học tủ, học lệch, hạn chế về việc vận dụng kiến thức vào việc làm bài tập. Khi làm kiểm tra trên lớp chỉ trông nhờ vào bài làm của bạn để quay cóp.

- Phương pháp học tập còn nhiều hạn chế, phần lớn học theo kiểu thụ động, thiếu tư duy sáng tạo, thiếu tinh thần tự học. Nhiều em nhận thức chưa đúng về tầm quan trọng của việc học, không có động cơ học tập còn tư tưởng may rủi trông chờ vào việc quay cop trong thi cử...

-HS  hổng kiến thức quá nhiều (quy tắc chuyển vế, giải pt, bất phương trình, rút căn, hàm số, định lý Pitago, tam giác đồng dạng, tính chất đường phân giác,...)

-HS còn lười học bài và làm bài tập (Không làm bài tập ở nhà thường xuyên hoặc mượn tập bạn chép, chép sách giải để đối phó). Vì vậy học tại lớp là chủ yếu

+ Học sinh bị hổng kiến thức, không đủ khả năng theo kịp chương trình nên có tâm lý “phó thác”, khả năng tiếp thu kiến thức yếu.

- Học trước quên sau vì không muốn chiếm lĩnh kiến thức đó

 - Tư tưởng ỷ lại vào điểm thi tuyển sinh. Mỗi môn 3,4 điểm cũng đậu nên không cần học nhiều. Thậm chí các em biết cuối năm các em luôn được xét tốt nghiệp nên học nhiều hay ít không quan trọng.

- Do thói quen lười lao động, được gia đình cưng chiều nên thái độ học tập cũng ảnh hưởng, đa số ngại khó, ngại khổ, không muốn bỏ thời gian để học thật sự, kiểm tra thì quay cóp mọi cách, thi cử thì làm tài liệu,...

b)              Về phía phụ huynh:

- Một số phụ huynh chưa quan tâm đúng mức, phó thác cho nhà trường, không quan tâm đến việc thi tuyển sinh (Đậu học tiếp, không thì thôi)

- Một số phụ huynh không hợp tác với giáo viên trong công tác ôn thi tuyển sinh và còn nuông chìu con quá mức

+ Do áp lực xã hội nhiều sinh viên học xong không xin được việc làm phải đi làm, không đúng với chuyên môn đào tạo hoặc đi làm công nhân hoặc lao động chân tay nên nhiều phụ huynh chưa chuyên tâm cho việc học hành của con, phụ huynh còn tư tưởng nếu thi đỗ vào 10 thì học còn không đỗ thì nghỉ đi làm, nên các con cũng không quyết tâm cho việc học để thi vào lớp 10.

c) Về phía giáo viên:

  - Trước học sinh thiếu quá nhiều kiến thức giáo viên mất nhiều thời gian để rèn luyện lại nên việc giảng dạy gặp vô cùng khó khăn, nội dung giảng dạy cho các em cũng hạn hẹp lại.

- Trước những học sinh không làm bài tập ở nhà thì giáo viên phải rèn tại lớp, mỗi tiết rèn được vài em tất nhiên hiệu quả không cao. Lo học sinh yếu thì hs khá ảnh hưởng rất nhiều.

- Học sinh học mau quên nên gv cũng phải dạy mỗi dạng bài rất nhiều lần, mất nhiều thời gian nhưng không được nhiều kiến thức.

- Chính sự lười lao động, sự xem nhẹ việc học của hs làm cho giáo viên không đủ động lực và chùn bước trước khó khăn, giáo viên chưa hy sinh hết thời gian cho các em vì có hy sinh thì nhận lại là sự thờ ơ lãnh đạm của các em.

 - Giáo viên vẫn phải bám theo chỉ tiêu cấp trên giao nên cũng còn nâng niu học sinh của mình. Đây cũng là 1 nguyên nhân làm cho học sinh lười lao động.

II.NHỮNG GIẢI PHÁP CỤ THỂ.

1.  Giáo viên: - GVCN khối 9 phải quản lý chặt, nắm bắt tình hình đạo đức, kết quả học tập của học sinh và đưa ra nhiều hình thức thi đua ở lớp nhằm giúp các em tiến bộ hơn.

 - Giáo viên (CN và bộ môn) thông báo kịp thời với PHHS khi học sinh có vấn đề.

 - GVBM tranh thủ và dành thời gian cho những học sinh trung bình, khá thật sự để các em giữ được điểm tb trong các kỳ thi, đối với học sinh yếu còn cảm hóa được thì quan tâm giúp các em đậu tuyển sinh (có thể đạt 3,4 điểm), những đối tượng hs khó cảm hóa thì tùy tình huống giải quyết một cách hợp lý nhất.

- Đối với những lớp đa số học sinh tb, yếu giáo viên dạy lý thuyết ngắn gọn, xúc tích dành nhiều thời gian cho việc luyện giải bài tập

- Trước mỗi kỳ thi (giữa kỳ, học kỳ) giáo viên phải dành thời gian vài tiết để ôn tập cho các em

 - Nếu có mất tiết tranh thủ dạy bù cho học sinh, tránh tình trạng dạy chạy theo chương trình dồn nén kiến thức

 - Tài liệu ôn tập tuyển sinh cập nhật phù hợp với kiến thức trọng tâm theo SGD gợi ý

 - Sau mỗi đơn vị kiến thức của từng bài cần bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng và nắm được các mức độ kiến thức đó trong đề thi để soạn, lựa chọn bài tập luyện các đơn vị kiến thức đó ngay cho học sinh. Các bài tập cần đi từ dễ đến khó theo lộ trình nặng dần nhưng vẫn đảm bảo bám sát chuẩn kiến thức kỹ năng để tạo hứng thú cho học sinh học trung bình yếu vươn lên.

 - Tìm kiếm tài liệu, sưu tầm các đề thi của năm trước, nghiên cứu kỹ cấu trúc đề thi từ những năm trước để soạn các chuyên đề bám sát chương trình học và thi. Ở mỗi chuyên đề nghiên cứu các dạng bài tập có liên quan đến dạng bài thi tuyển sinh để ôn tập cho các em. Các bài trong chuyên đề cần lặp đi lặp lại ít nhất 4 đến 5 bài cùng dạng để học sinh học yếu nhận dạng và làm quen tốt nhằm tạo hứng thú động lực cho các em cố gắng trong học tập.

 - Khi soạn các chuyên đề cần nghiên cứu kỹ các đơn vị kiến thức có liên quan sau đó hệ thống lại lí thuyết rồi mới soạn các dạng bài tập. Bài tập cần đi từ dễ đến khó nâng dần theo các mức độ kiến thức để mọi học sinh đều có thể lĩnh hội được, khi đến các mức vận dụng cao thì chỉ yêu cầu học sinh khá giỏi phải hoàn thành để tránh hoang mang cho học sinh trung bình, đồng thời tạo hứng thú cho học sinh khá giỏi.

 -Điều quan trọng nữa là sau khi giáo viên dạy mỗi dạng bài tập xong thì cần kiểm tra ngay dạng đó để nắm bắt được mức độ nhận thức của học sinh. Từ đó giáo viên có kế hoạch và biện pháp rèn cặp những em chưa tốt, sửa sai cho học sinh, đồng thời điều chỉnh quá trình dạy của giáo viên nếu cần.

 - Phân loại HS theo trình độ nhận thức ngay từ đầu năm học. Dành nhiều thời gian hơn để hướng dẫn học sinh kỹ năng làm bài tập, kỹ năng thực hành, vận dụng. Dành thời gian hướng dẫn học sinh phương pháp tự học, tự tìm tòi và rèn luyện thêm tại nhà. Với những học sinh khá giỏi cần hướng dẫn thêm các dạng bài vân dụng cao ở mức nâng cao cơ bản để các em tiếp cận dần sau đó nếu làm tốt thì cho các em làm quen với các dạng bài nâng cao tư duy .Tuy nhiên nếu thấy các em không thể tiếp thu được thì giáo viên cũng nên cân nhắc dừng lại để học sinh tránh hoang mang và mất niềm tin vào bản thân.

- Với những học sinh trung bình yếu khi dạy các dạng bài tập cần cho học sinh làm nhiều bài tương tự để học sinh nhận dạng tốt rồi mới chuyển dạng khác và nên dừng lại ở bài tập dạng vận dụng thấp, Đồng thời thường xuyên kiểm tra đôn đốc gọi rèn ở các giờ luyện tập, ôn tập.

- Hệ thống hóa cho học sinh những kiến thức từ cơ bản đến nâng cao, ôn tập cho học sinh theo dạng chuyên đề. Qua từng chuyên đề đưa ra các bài tập áp dụng cụ thể để học sinh khắc sâu hơn kiến thức.

- Về phương pháp cần phải đổi mới hơn nữa, áp dụng nhiều biện pháp thiết thực, phù hợp với đối tượng học sinh nhằm kích thích tinh thần tích cực học tập. Nhất là hoạt động nhóm giữa các em khá giỏi giúp đỡ các em trung bình yếu để cùng nhau vươn lên.

- Giáo viên cần chú ý hướng dẫn học sinh cách học, cách hệ thống kiến thức theo từng bài, từng chương, từng chuyên đề và đặc biệt các em cần nghiêm túc nghe giảng nắm chắc bài ngay sau tiết giảng và giáo viên có hệ thống câu hỏi trắc nghiệm theo từng bài, hướng dẫn học sinh trả lời, đưa vào kiểm tra đầu giờ học những công thức toán học hoặc các định lý, tính chất ...

- GV dạy lí thuyết không nên dàn trải, ít nhất phải còn lại 10 phút cho việc hệ thống kiến thức và củng cố bài học.

- Thường xuyên kiểm tra và chấm trả kịp thời để sửa sai cho học sinh đồng thời thu thập được những thông tin ngược về quá trình dạy của mình để có kế hoạch dạy sao cho phù hợp và đạt được kết quả tốt nhất.

- Thầy cô giáo cần soạn bài, thiết kế bài giảng theo hướng đổi mới, sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học nhằm tạo hứng thú, thu hút HS vào bài giảng của mình và đặc biệt bài giảng phải phù hợp với đối tượng HS. Với những lớp có nhiều HS tiếp thu bài chậm, GV cần chia nhỏ câu hỏi, chia nhỏ kiến thức cho phù hợp với từng đối tượng trong lớp, thậm chí có HS chỉ có thể gọi đọc bài, đọc định nghĩa, định lý, tính chất… và GV phải thật kiên trì vì có thể có HS đọc bài vẫn còn rất chậm, còn phải đánh vần… Nhưng như vậy, từng bước, từng chút, chúng ta sẽ giúp HS thấy: không ai là thừa trong lớp học. Mỗi bạn đều có trách nhiệm đóng góp xây dựng bài học, tiết học, qua đó giúp các em có trách nhiệm, có ý thức với bản thân và tự tin hơn trong các tiết học. Trong các tiết luyện tập thì giao bài phân ra ít nhất là 2 đối tượng: Nhóm TB khá và khá; nhóm yếu và nhóm TB… để mọi HS trong lớp đều có thể làm được các bài tập cô giao.

- Thầy cô cần vừa dạy mới, vừa ôn cũ vì các con còn quên nhiều kiến thức. Nên có các bảng phụ để treo một số kiến thức cũ có liên quan tới bài mới hôm nay. – Cần đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá HS: hệ thống bài tập về nhà cũng chia theo đối tượng: với những HS TB khá và khá thì giao bài ở mức độ thông hiểu, vận dụng và vận dụng cao (tùy từng bài nếu có thể); còn với những HS TB và yếu thì giao bài ở mức độ nhận biết và hiểu rồi dần nâng lên thông hiểu. Ngoài những bài kiểm tra viết theo định kỳ; một số bài kiểm tra thường xuyên có thể cho HS tự kiểm tra, đánh giá bài của bạn, có thể cho học sinh hoạt động nhóm và chấm kết quả hoạt động của nhóm thông qua các sản phẩm thu được; GV cũng có thể sử dụng các phần mềm như azota; study; eNetViet để giao bài và chấm bài cho HS… Sau khi kiểm tra, GV nhận xét và động viên, khuyến khích các em làm đủ và đúng nhiều bài và những em có tiến bộ hơn so với chính mình; ghi nhận sự tiến bộ của từng em … nhằm giúp các em thấy hứng thú hơn trong học tập.

- Cập nhật kịp thời các văn bản hướng dẫn của sở về thi tuyển sinh, nắm được các dạng bài tập mà trong đề thi sẽ có, từ đó tìm kiếm các nguồn tài liệu phù hợp để áp dụng có hiệu quả trong quá trình ôn tập cho học sinh.

 

2.VỀ PHÍA HỌC SINH

Trước hết các em phải nhận thức đúng về tầm quan trọng của việc học. Sau đó các em phải có cách học tốt nhất thông qua các phương pháp ôn luyện sau:

- Tự học.

- Ôn đến bài nào thì nắm chắc kiến thức bài đó

- Ôn bám sát kiến thức cơ bản, rèn kỹ năng làm bài theo thời gian.

- Học ôn theo nhóm chia theo năng lực và nhóm hỗ trợ nhau tại lớp hoặc tại nhà.

- Phân chia thời gian học hợp lý.

- Ôn theo đề cương.

- Thường xuyên làm bài kiểm tra, làm bài thi thử.

- Trước khi đi ngủ hãy ôn lại các nội dung, công thức đã học.

 - Nghe lời và chấp hành tốt nhiệm vụ của hs

 - Ý thức tốt, xem trọng việc học, không ngại khó và đặt mục tiêu chính đáng trong kỳ thi ts

 - Xem trọng giáo viên, có đầu tư tự học ở nhà giúp giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ

 - Quên kiến thức được giáo viên hướng dẫn lại thì cố gắng tiếp thu, quan tâm và khắc phục ngay, tránh tình trạng vô tâm, vô tư biết cũng được, không biết cũng chả sao.

- Định hướng trước từ đầu năm học là thi ts hay học nghề và kiên định trước con đường mình chọn.

 

3. Phụ huynh học sinh:

 - Thường xuyên quan tâm đến việc học của con em mình, kết hợp tốt với nhà trường trong việc giáo dục các em.

- Định hướng đúng đắn cho con mình tùy theo khả năng mà chọn học tiếp hay học nghề, tránh tình trạng đua chen theo bạn bè trong khi khả năng không có.

 - Bớt nuông chiều con cái, tập cho con mình yêu thích lao động, tự có trách nhiệm với bản thân.

 - Thông cảm và chia sẻ với giáo viên trong công tác giảng dạy.

Bên cạnh những giải pháp trên, tôi cũng xin đề xuất một số ý kiến như sau về phía nhà trường:

-                  Với các tổ, nhóm chuyên môn cần tiếp tục thực hiện tốt phong trào “Dạy tốt, học tốt”; tăng cường trao đổi, chia sẻ các kinh nghiệm trong giảng dạy để giúp đỡ đồng nghiệp nâng cao chất lượng giảng dạy, nhất là chất lượng giảng dạy học sinh đại trà.

-                  BGH nhà trường đã quan tâm rồi nhưng cũng cần tiếp tục quan tâm, đầu tư cơ sở vật chất và tạo điều kiện nhiều hơn nữa để các đ/c GV trong trường được nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, được tiếp cận với những phương tiện dạy học hiện đại, hiệu quả nhằm nâng cao chất lượng trong từng bài giảng…

 

- Có kế hoạch cụ thể từng giai đoạn và giúp đỡ, tư vấn giáo viên để việc giảng dạy đạt hiệu quả hơn.

- Thực hiện tăng tiết sau khi đã ổn định công tác đầu năm học

- Đề xuất giải pháp thiết thực phù hợp tình hình nhà trường để giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ.

 - Tiếp tục phân luồng học sinh hiệu quả

- Đảm bảo cơ sở vật chất cho giáo viên giảng dạy: Nên có đội ngũ bào trì, bảo hành cơ sở vật chất của nhà trường ở mỗi lớp học (Máy tính, tivi,…)

 

 Tóm lại chất lượng giáo dục của nhà trường có giữ vững và nâng cao hay không là do sự toàn tâm, toàn ý của tập thể nhà trường và những bộ phận có liên quan. Sự thành công của bất kỳ công việc nào đó trong nhà trường đều do sự đồng lòng, sự quyết tâm, sự đoàn kết của tập thể đơn vị bởi vì "Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, thành công, thành công, đại thành công.

Trên đây là một số ý kiến tham luận của tôi nhằm nâng cao chất lượng giáo dục học sinh đại trà. Vì thời gian có hạn và “biển kiến thức vô hạn” nên không thể tránh khỏi những điều còn hạn chế. Rất mong các vị đại biểu và các đ/c đóng góp cho bản tham luận của tôi được hoàn chỉnh hơn. Trước khi ngừng lời, xin kính chúc các vị đại biểu, khách quý cùng các đ/c tham dự hội nghị hôm nay sức khỏe, gia đình hạnh phúc. Xin trân trọng cảm ơn!

 

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

TKB lần 5 từ 24/11/2025

TKB lan 9

TKB lần 3 từ 20.10.2025